Giới thiệu về học viện MI

Thứ năm, 03/02/2018

MI là viết tắt của cụm từ Multiple-Intelligence. Học viện MI của chúng tôi thành lập có những đặc điểm sau:           Mục đích cá biệt hoá trong giáo dục hướng tới cá nhân hoá trong giáo dục tập trung vào phát triển con người theo năng lực nổi trội của mình

  1. Sự cá nhân hóa liên quan mật thiết với người học trong việc cấu trúc kiến thức của chúng.

Đứa trẻ ấy có những kỹ năng và kinh nghiệm sống gì, chúng được ứng dụng như thế nào để xử lí các khái niệm và kỹ năng trong học tập?
Sự am hiểu về học sinh: Việc hiểu rõ năng lực của các em đòi hỏi kỹ năng và sự cam kết thực sự của giáo viên. Giáo viên không những phải nắm được thông tin về trình độ của học sinh, mà còn phải hiểu rõ về thế mạnh, năng khiếu, nguyện vọng và nguồn động lực của các em.
Chất lượng giảng dạy cao: Giáo viên cần biết cách đặt câu hỏi cho học sinh để nhận được câu trả lời cần thiết, phân bổ hoạt động trong lớp học để đảm bảo mỗi học sinh đều đạt được mục tiêu kỳ vọng của mình trong bài học đó. Mục tiêu học tập của mỗi học sinh là khác biệt và cũng sẽ phát triển, thay đổi cùng các em.

Nuôi dưỡng đam mê: Cá nhân hóa trong học tập cho học sinh cơ hội phát triển sở thích vàđam mê. Học sinh được quyết định mức độ tham gia vào các hoạt động học tập theo đam mê cá nhân của mình. Giáo viên có trách nhiệm định hướng chiến lược cho các em để đạt được mục tiêu kỳ vọng.

2. Để học sinh thiết kế bài tập về nhà và các tiêu chí đánh giá, với sự hướng dẫn dựa trên tiêu chuẩn học tập từ giáo viên.

Bước đầu đơn giản là cho học sinh hai mẫu do giáo viên thiết kế. Sau đó, cho chúng mẫu thứ ba để trống để chúng tự phát triển ý tưởng. Giáo viên nghe các đề xuất của học sinh. Thiết kế có thể được thông qua, sửa đổi và gửi lại cho học sinh để phát triển một ý tưởng mới. Nếu học sinh không được thông qua đề xuất trong một khoảng thời gian đã định, em ấy phải chọn trong các thiết kế của giáo viên.

3. Cho học sinh tham gia vào bài học hoặc quá trình xây dựng tiêu chí đánh giá 

Cho học sinh tham gia vào bài học hoặc quá trình xây dựng tiêu chí đánh giá làm mất nhiều thời gian hơn nếu xét trong một khoảng ngắn nhưng về lâu dài thì lại tiết kiệm thời gian. Bởi lẽ tính tương tác trong học tập sẽ bền vững hơn khi có sự tham gia của học sinh. Học sinh đóng góp vào quá trình lên kế hoạch học tập, điều này cho phép chúng nêu những ý tưởng mà “chúng” biết là sẽ tạo sự tương tác học tập, gia tăng sự tích lũy và khuyến khích chúng kiên trì đúng chỗ.

4. Tất cả đều có thể xảy ra vì học sinh chia sẻ quá trình thiết kế bài học cùng giáo viên. 

Khi một học sinh góp phần vào việc tạo ra cái mà thường gọi là đánh giá thực hành, sẽ không có sự nghi ngờ nào vì giáo viên đã đáp ứng hết rồi. Không cần thuyết phục học sinh rằng trải nghiệm học tập sẽ tốt cho chúng, bởi vì chính chúng đã tham gia tạo nên những lựa chọn. Khi tiếp cận với lý thuyết của Howard Gardner chúng tôi nhận thấy có nhiều điểm tương đồng trong việc cá nhân hoá giáo dục: Howard phản bác quan niệm truyền thống về khái niệm, vốn thường vẫn được đồng nhất và đánh giá dựa trên các bài trắc nghiệm IQ. Ông cho rằng khái niệm này chưa phản ánh đầy đủ các khả năng tri thức đa dạng của con người.Theo ông, ở trường, một học sinh giải quyết dễ dàng một bài toán phức tạp chưa chắc đã thông minh hơn đứa trẻ khác loay hoay làm mãi không xong bài toán đó. Cậu học sinh thứ 2 rất có thể sẽ giỏi hơn trong các dạng thông minh khác. Lý thuyết đa trí tuệ của ông cho rằng, mỗi cá nhân hầu như đều đạt đến một mức độ nào đó ở từng phạm trù trong hệ thống các dạng thông minh. Mức độ này thấp hay cao thể hiện hạn chế hay ưu thế của cá nhân đó trong lĩnh vực này. Đặc biệt, mức độ này không phải là hằng số trong cuộc đời của họ mà sẽ có thể thay đổi tuỳ vào điều kiện trau dồi.

Chuyên gia nghiên cứu và đưa ra bộ test đa trí tuệ để có thể đánh giá năng lực nổi trội của từng cá nhân:
Chẳng có một bộ chuẩn mực nào mà một người phải thoả mãn để được xem là thông minh trong một lĩnh vực xác định. Cho nên một người có thể mù chữ mà vẫn được xem là có trí tuệ ngôn ngữ cao vì có thể kể rất hấp dẫn một câu chuyện kinh dị, hoặc sở hữu một vốn từ vựng nói đặc biệt phong phú. Cũng như vậy, một người có thể chơi rất tồi tệ trên sân cỏ mà vẫn được xem như có trí tuệ hình thể – động năng nếu như dệt rất tài hoa một tấm thảm hoặc tạo ra một bàn cờ khảm sắc.

 Thuyết đa trí tuệ nhấn mạnh đến tính đa dạng, phong phú của các phương thức biểu lộ năng khiếu trong hoặc giữa các trí tuệ khác nhau. Năm 1983 Howard đưa ra học thuyết về trí thông minh đa dạng gồm 7 trí thông minh. Năm 1996 ông tiếp tục đưa ra trí thông minh về tự nhiên. Theo ông, trí thông minh đa dạng cho thấy mỗi con người có khả năng biểu đạt tri thức của mình theo 8 cách khác nhau và học theo cách tốt nhất như thế nào. Hiện tại đang xem xét kết nạp thêm dạng thông minh thứ 9 : thông minh hiện sinh.